PDA

View Full Version : LỊCH SỬ TRƯỜNG [Info by Killlucifer]


..::[Memory]::..
08-10-2007, 09:35 AM
http://www.trunghocthuduc.com/thtd.jpg

Hình ảnh trường vào năm 1967

Trích dẫn câu nói của các cô chú kiều bào từng là thế hệ đi đầu của trường trung học Thủ Đức ( THPT Nguyễn Hữu Huân ngày nay ) : " Sau những thử thách trong cuộc sống , sau những ngày tháng tha hương dằn vặt , cũng có những giây phút nào đó chúng ta thấy trong lòng mình man mác nhớ mong bóng dáng ngày xưa dưới mái trường Trung Học Thủ Ðức . Này trường, này lớp , này thầy cô , này bạn bè, tất cả hình như còn lưu giữ ở một góc nhỏ bé nào đó trong tâm trí của mỗi người với những kỉ niệm tuyệt vời .... "

http://www.trunghocthuduc.com/thtd3.jpg

GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG TRUNG HỌC THỦ ĐỨC - HOÀNG ĐẠO
(1962 - 1975)


Đầu thập niên 60 của thế kỷ 20, nhu cầu học lên trung học của con em Quận Thủ Đức trở nên cấp thiết. Do đó tuy chưa có trường sở nhưng nhờ sự can thiệp của Ông Trương Vĩnh Lễ, Chủ Tịch Quốc hội thời bấy giờ nên trường Trung học Thủ Đức (công lập) được thành lập và hoạt động kể từ ngày 1-9-1962 .


Năm học 1962 - 1963: Trường Trung học Thủ Đức phải “ở đậu” nơi trường Nữ tiểu học nay là trường tiểu học Nguyễn Trung Trực với hai lớp đệ thất: lớp Đệ Thất P1: nữ sinh + 5 nam sinh. Lớp Đệ Thất P2: nam sinh. Tổng số khoảng 100 học sinh. Học trong hai phòng ốc cũ kỹ. Cả hai phía xe cộ lúc nào cũng chạy tấp nập. Về nhân sự trường có ba giáo sư là các thầy Ngô Thúc Cơ, Trần Ngọc Dưỡng và Trương Văn Minh do thầy Lý Ngọc Kiệt làm Quản đốc.

Năm học 1963 - 1964: Trường tuyển thêm 3 lớp Đệ Thất (2 Thất Pháp văn và một Thất Anh văn). Sỉ số cả 5 lớp khoảng 230 học sinh. Trường mượn thêm trường Nữ tiểu học 2 phòng học ở sát cạnh bến xe lam và căn xép nhỏ ngăn đôi: 01 dành làm Văn phòng và 01 dùng làn Phòng giáo sư. Về nhân sự thầy Kiệt về hưu, thầy Cơ lên xử lý thường vụ Hiệu trưởng. Năm này có thêm cô Nguyễn Thị Ngọc Dung dạy Văn, cô Nguyễn Kim Loan dạy Pháp văn cùng một số giáo sư dạy giờ như các thầy Luyện Quang Đăng, Lê Kim Chi, Trà Chơn Hiếu, cụ Nguyễn Văn Gần. v.v...

Năm học 1964 - 1965: Trường phát triển dần với 2 lớp Đệ Ngũ, 3 lớp Đệ Lục và 4 lớp Đệ Thất tổng cộng 458 học sinh. Trong năm này có thêm giáo sư từ các tỉnh chuyển về như thầy Nguyễn Trang Quốc (Pháp văn), thầy Đoàn Trọng Bào (Toán), thầy Trần Minh Đức (Văn). Học sinh phải học hai ca: 4 lớp Thất học buổi sáng, 2 lớp Đệ Ngũ và 3 lớp Đệ Lục học buổi chiều. Điều kiện học tập giai đoạn này thật thảm hại, lớp học gần đường nên tiếng ồn của xe lấn át cả lời giảng bài. Vào những tháng mưa dầm, sân trường lầy lội, tiếng mưa rơi vang trên mái ngói, thỉnh thoảng một cơn dông thổi tạt xuyên vách ngăn ô vuông làm ướt cả vở học sinh.

Năm học 1965 - 1966: Tiếp tục phát triển trường Trung học Thủ Đức mở thêm 2 lớp Đệ Tứ và nhận vào 4 lớp Đệ Thất tổng cộng 13 lớp với 700 học sinh. Phòng ốc không đủ nên các lớp phải chia ra học 3 địa điểm: trường Nữ tiểu học, trường Nam tiểu học nay là trường Trung học cơ sở Lê Quý Đôn và trường Bán công. Để châm biếm cảnh này, trên tờ đặc san xuân năm đó em Đoàn Cát đã vẽ một hý họa: một người hỏi thăm địa điểm trường trung học Thủ Đức được học sinh chỉ ba mũi tên qua ba hướng khác nhau. Do đó, học sinh hai lớp Đệ Tứ cuối năm này được chuyển trường theo đơn xin vào các trường Petrus Ký, Chu Văn An, Lê Văn Duyệt, Võ Trường Toãn và Trưng Vương, Gia Long tùy theo Nam hay Nữ.

Năm học 1966 - 1967: Dù chưa có cơ ngơi riêng, Trung học Thủ Đức vẫn lớn mạnh với 3 lớp Tứ, 4 Ngũ, 4 Lục, 4 Thất tổng cộng 15 lớp với khoảng 800 học sinh và gần 20 giáo sư. Năm này thầy Cơ xin chuyển về Sài Gòn sau bao năm vất vả với trường. Thầy Hồ Văn Trai được cử làm Hiệu trưởng, giữa năm tăng cường thầy Trần Minh Đức làm Tổng giám thị. Một số thầy cô cũng được chuyển về như cô Lê Uyển Dung (Văn), cô Nguyễn Thu Hồng (pháp văn), thầy Võ Cẩn (toán)...
Một tin vui đưa đến, Ban Doanh lý kiến thiết làng Đại học Thủ Đức đồng ý cho Bộ giáo dục mướn một lô đất diện tích 15.000m2 giá tượng trưng 1 đồng /1 năm/ 1m2 thời hạn là 99 năm dùng làm cơ sở xây dựng trường Trung học Thủ Đức, bước đầu có 5 phòng học theo chương trình Ấp Tân sinh. Trong năm này, trường vẫn phải học 3 nơi khác nhau 2 lớp học tại trường Nữ, 4 lớp học tại trường Mới (tên gọi mà đồng bào địa phương thường dùng lúc đó) và một số còn lại học tại hai dãy phòng gỗ của trường Nam tiểu học.

Năm học 1967 - 1968: Từ một trường trung học Đệ Nhất cấp 4 lớp ở mỗi khối mở thêm 2 lớp Đệ Tam nâng tổng số lớp lên 18 với gần 1000 học sinh, Hội phụ huynh học sinh đứng đầu là ông Huỳnh Văn Hượt cùng với một vài vị ân nhâncó nhiệt tâm với nền giáo dục Quận nhà như ông kỹ sư Trần Văn Bé, ông Kiến trức sư Lê Văn Lắm đã vận động tích cực để xây dựng thêm phòng học.
Cạnh 5 phòng học thuộc ấp Tân sinh xây thêm 8 phòng học thành 2 dãy, mỗi dãy 4 phòng hướng mặt ra đường Hoàng Diệu (nay là Võ Văn Ngân).
Ngoài ra một hệ thống hàng rào kẽm gai được dựng nhằm bảo vệ trường sở và duy trì kỷ luật học đường.
Cùng năm này một bảng hiệu mang tên Trung học Thủ Đức được dựng lên ngay cổng trường giáp với đường Đoàn Kết làng Đại học. Chấm dứt thời kỳ ăn gửi ở nhờ” nơi các trường khác, phấn khởi với trường sở mới, một phong trào sinh hoạt học đường vùng lên sôi nổi, thầy trò tham gia san lấp và làm cỏ sân trường vì nơi đây có nhiều gò mối, xây dựng bồn hoa và cột cờ để làm lễ chào cờ mỗi ngày. Cả trường tổ chức cắm trại, thi đua thể thao và làm bích báo.

Năm học 1968 - 1969: Trường phát triển thêm với 2 Nhị, 3 Tam, 4 Tứ, 4 Lục, 5 Thất tổng cộng 22 lớp với khoảng 1.200 học sinh.
Trong năm này trường xây thêm hội trường nhưng còn thiếu phòng ốc nên phải ngăn làm ba, một làm phòng giáo sư, một phòng làm giám thị, một dùng làm phòng học.
Kỳ thi tú tài (học sinh Đệ Nhị thi tú tài 1, đậu mới được học tiếp Đệ Nhất để thi tú tài 2) năm này, học sinh trường Trung học Thủ Đức ra quân lần đầu đem về một kết quả đáng khích lệ đạt tỷ lệ đậu 59% có một số đậu hạng Bình và Bình thứ. Đó là khích lệ lớn lao cho ban giảng huấn sau bao năm tháng khó nhọc tôi luyện học sinh đồng thời tạo được niềm tin trong giới phụ huynh.
Tuy nhiên vì thời cuộc, có sự biến động về nhân sự, một số giáo sư phải đi thụ huấn quân sự chín tuần hoặc hoặc phải nhập ngũ hay tái ngũ, việc giảng dạy và kỷ luật nhà trường có phần giảm sút. Khoảng cuối năm 1968 chương trình xây dựng và phát triển nông thôn yểm trợ cho trường 2 phòng xây thẳng góc với nhà vệ sinh đặc biệt cuối vụ hè 1969, Bộ Giáo dục cấp cho trường 4 phòng học được xây đối diện với 3 dãy cũ, giữa sân trường hình vuông rộng rãi ngay trung tâm là cột cờ sững sững oai nghi.

Năm học 1969 - 1970: Tình trạng phòng ốc tương đối khả quan nên trường tiếp tục phát triển với 2 lớp Đệ Nhất, 3 lớp Đệ Nhị, 4 Tam, 4 Tứ, 5 Ngũ, 7 Lục, 7 Thất tổng cộng 32 lớp trên 1500 học sinh. Năm này có sự thay đổi trong Ban Giám đốc: thầy Hồ Văn Trai được chuyển về Nha Tư Thục, thầy Trần Minh Đức xin thôi làm Tổng giám thị, thầy Nguyễn Văn Có thay thế. Vì trường đầy đủ các cấp lớp trở thành trường Đệ Nhị cấp nên thầy Bùi Hữu Châu được chuyển về làm Giám học đồng thời XLTV hiệu trưởng chờ Bộ cử tân Hiệu trưởng.
Trong thời gian này trường xây thêm 3 phòng học nối tiếp với 4 phòng học của Bộ thành một dãy 7 lớp rất khang trang và đúng tiêu chuẩn. các phòng học này do phụ huynh học khối 7 xây dựng.

Năm học 1971 - 1972: Theo đà phát triển bình thường, trường có 4 lớp12, 4 lớp 11, 5 lớp 10, 5 lớp 9, 7 lớp 8, 7 lớp 7, 7 lớp 6, tổng cộng 39 lớp gần 2.000 học sinh, thầy Nguyễn văn Tâm được cử về làm Hiệu trưởng từ cuối năm học 1970 -1971. Đầu niên khóa 1971 - 1972 mới thực sự bắt tay vào việc. Lúc này Ban Giám đốc nhà trường có đầy đủ với thầy Tâm làm Hiệu trưởng , thầy Diệp Phong Quang Giám học, và thầy Trần Văn Huỳnh Tổng giám thị. Nhà trường cũng có đầy đủ các ban: ban giảng huấn, hành chánh kế toán, giám thị và bảo vệ tùy dịch...tổng cộng là 90 vị.
Thầy Tâm xây dựng nhiều phong trào cho nhà trường: cắm trại, thi đua văn nghệ, ra Đặc San xuân Nhâm Tý (1971 -1972) lần đầu tiên được in hẳn hoi vì trước đó chỉ quay roneo, trồng cây tạo bóng mát quanh sân trường, sang ủi đường đi và sân tập thể dục.
Lập Ban Giáo sư hướng dẫn Khải đạo. Sau khi qua một khóa huấn luyện chuyên môn các thầy Nguyễn Đình Quỹ, Trần Minh Đức và cô Lê Uyễn Dung, Lưu Thị Quý được cử phụ trách ban này. Lập thư viện nhà trường và dự định biến cải trường Trung học Đệ Nhị cấp Thủ Đức thành một trường tổng hợp.

Năm học 1973 - 1974: Một ban Giám đốc mới được đề cử: Hiệu trưởng Trần Quang Tuấn, Giám học thầy Võ Phá, phụ tá có thầy Võ Văn Sum, tổng giám thị: thầy Nguyễn Văn Phượng. Cùng lúc tên trường Trung học Thủ Đức được đưa ra thảo luận rất sôi nổi tại hội đồng Giáo sư nhà trường; thầy Tuấn rất tâm đắc với tác phẩm: “Mười điều tâm niệm” của Hoàng Đạo nên quyết định chọn danh hiệu này để soạn thảo ra “Mười điều nội quy của trường”. Trường đổi tên trung học Hoàng Đạo. Theo đà phát triển số lớp tăng lên 43 với khoảng 2.200 học sinh.

Năm học 1974 - 1975: Lại một ban Giám đốc mới được cử đến gồm: Hiệu trưởng: thầy Nguyễn Văn Hanh, Giám học thầy Nguyễn Hà Trị, phụ tá Giám học thầy Võ Thanh Sum, Tổng giám thị Nguyễn Đình Năm.
Đặc biệt cuối năm 1974 - 1975, được sự hỗ trợ của phụ huynh học sinh cộng thêm ngân sách nhà nước một dãy phòng học gồm 4 phòng trệt và 4 phòng lầu được khẩn trương xây dựng nối tiếp với 2 phòng học “nông thôn”, khép kín khuôn viên nhà trường thành 4 dãy vuông vức bao quanh, tổng số lớp là 45: 4 lớp 12, 6 lớp 11, từ lớp 10 đến lớp 6 mỗi khối 7 lớp với gần 2.500 học sinh. Tổng số ban giảng huấn, nhân viên hành chánh, giám thị gần 90 người.
Chất lượng giảng dạy được nâng cao thêm một bước: ngoài một số giáo sư cư trú tại địa phương thể hiện tình cảm gắn bó và tận tụy với nhà trường, phần còn lại là những giáo sư dạy lâu năm nhiều kinh nghiệm chuyển từ các tỉnh về giúp cho việc giảng dạy thêm đa dạng và phong phú, tạo được tiếng vang tốt nên thu hút học sinh các vùng phụ cận như: Gia Định, Dĩ An, Lái Thiêu, Biên Hòa...

Từ 1975 đến nay: Trường đổi tên là Phổ Thông Trung Học Nguyễn Hữu Huân . Tháng 5 năm 2005 , trường hoàn thành tân trang và xây dựng mới một trường sở khang trang và rộng lớn .


Nhìn lại quảng thời gian 13 năm ấy ta có thể hình dung sự trưởng thành vượt bậc của trường: từ một trẻ sơ sinh nhanh chóng trở thành một thiếu niên và một thanh niên tràn đầy sức sống mặc dù điều kiện vật chất buổi đầu cực kỳ thiếu thốn khó khăn. Là đàn em nhưng không tự ti trước các anh chị lớn. Yếu tố nào đã tạo nên sự “thần kỳ” đó? Chính là tinh thần vượt khó, lòng yêu nghề của các thầy cô, tình đoàn kết tương thân tương ái giữa các thành viên của cộng đồng.

Chi tiết về tiểu sử cụ Nguyễn Hữu Huân đọc tại đây (http://nguyenhuuhuan.info/forum/showthread.php?p=40891#post40891)

nhoc'_barney
08-10-2007, 09:43 AM
thanx Mem nhen, đến bi h mới hỉu rõ LS của trường, thật woa' khâm phục

pe' Loi^
08-10-2007, 10:50 AM
đúng là tới khi ra trường òi vẫn hem nắm rõ lịch sử của trường ji cả...
:((

white_gragon14
08-10-2007, 11:00 AM
wao đúng là một LS đáng kinh ngạc,wá tuyệt vời ^_^,xí vậy cho em hỏi cụ NHH của chúng ta là ai thế?Em mới vào còn mơ hồ lắm ^_^

nhinlentroilamay
08-10-2007, 11:17 PM
đúng gùi seo hok coá tiểu sử cụ nguyễn hữu huân vậy

Manucian
08-10-2007, 11:46 PM
đúng gùi seo hok coá tiểu sử cụ nguyễn hữu huân vậy

Ủa anh tưởng vào năm học là mỗi đứa bị phát cho một tờ A4 về tiểu sử cụ Nguyễn mà, rồi còn khảo lấy khảo để nữa, làm gì chả nhớ, trừ khi quay bài trong giờ kiểm tra, như anh đây năm ngoái...;))

@ bé Vân: góp ý nhóc cái, thứ nhất là nên viết hoa tên cụ Nguyễn (kính già già để tuổi cho mà ;))), thứ hai chịu khó viết đúng chính tả nhé, sau này cầm cái đơn xin việc đầy lỗi chính tả hay viết bức thư cho người yêu kiểu đó là mây đen nổi lên đấy ;))

Killlucifer
09-10-2007, 12:07 AM
đúng òy trừ khi way bài như tui năm ngoái thì làm j nhớ nỗi cụ đánh trận nào ...............với sinh ngày nào

12acid
09-10-2007, 12:21 AM
Ủa anh tưởng vào năm học là mỗi đứa bị phát cho một tờ A4 về tiểu sử cụ Nguyễn mà, rồi còn khảo lấy khảo để nữa, làm gì chả nhớ, trừ khi quay bài trong giờ kiểm tra, như anh đây năm ngoái...;))

@ bé Vân: góp ý nhóc cái, thứ nhất là nên viết hoa tên cụ Nguyễn (kính già già để tuổi cho mà ;))), thứ hai chịu khó viết đúng chính tả nhé, sau này cầm cái đơn xin việc đầy lỗi chính tả hay viết bức thư cho người yêu kiểu đó là mây đen nổi lên đấy ;))

ai chứ cụ Nguyễn thì ko ham " để tuổi " cho.cụ bị hành quyết khá sớm.hix

..::[Memory]::..
09-10-2007, 01:03 PM
Tiểu sử cụ Nguyễn Hữu Huân

http://nguyenhuuhuan.info/forum/showthread.php?p=40891#post40891

pe' Loi^
10-10-2007, 02:46 AM
Thủ Khoa Huân tên thật là Nguyễn Hữu Huân, sinh năm 1830, tại làng Tịnh Hà, tổng Thanh Quơn, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường. Nay là xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo con Nguyễn Hữu Cẩm - một nông dân khá giả trong vùng.

Thuở nhỏ ông nổi tiếng thông minh, khăng khái, học rất giỏi và chăm chỉ học tập. Năm 1852 - dưới triều Tự Đức, ông dự thi hương tại Gia Định đậu thủ khoa (đứng đầu cử nhân). Sau đó, ông được làm giáo thọ tức đốc học ở huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường.

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, ông bỏ chức giáo thọ từ biệt gia đình tham gia kháng chiến, liên kết với các sĩ phu yêu nước, chiêu mộ nghĩa binh đứng lên chống giặc, ngược hẳn với chiến lược hoà mà thực chất là đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn.


* Đầu năm 1862 bị giặc Pháp đánh úp, ông bị giặc bắt giải về Sài Gòn. Pháp giao ông cho Đỗ Hữu Phương ( Tổng Đốc Phương ) - đầu sỏ việt gian mua chuộc, ông từ chối và khôn khéo tìm cách trở lại hoạt động - liên kết với Trương Định .

* Tháng 6/1863 giặc phát hiện căn cứ của ông ở Thuộc Nhiêu ( Cai Lậy ) nên bao vây càn quét. ông và Thiên Hộ Dương chạy thoát về An Giang xây dựng căn cứ Bảy Núi. Dựa vào điều ước Nhâm Tuất, Pháp buộc quan tỉnh An Giang giao nộp Thủ Khoa Huân và Thiên Hộ Dương. Biết tin Thiên Hộ Dương trốn thoát, sau đó chuyển căn cứ về Đồng Tháp Mười. Còn Thủ Khoa Huân bị bắt giao nộp cho Pháp. Chúng khép ông vào tội chống lại nhà nước Lang Sa (Pháp), phản đối hiệp ước mà triều đình đã ký, kết án 10 năm khổ sai và đài ra đảo Réunion.
* Sau 7 năm tù , chúng ân xá và đưa ông về quản thúc tại nhà Tổng Đốc Phương, đồng thời cử ông làm giáo thọ dạy bảo " sinh đồ " ở Chợ Lớn với hy vọng lôi kéo ông về phía chúng. Ông lợi dụng điều kiện đi dạy học liên lạc với các sĩ phu yêu nước và Hội Kín Hoa kiều "Trường Phát" nhờ mua vũ khí chuẩn bị khởi nghĩa. Trong khi cuộc khởi nghĩa đang được chuẩn bị khẩn trương thì bị giặc Pháp nhờ do thám đã bắt được thuyền chở vũ khí. Trước tình hình đó ông ra lệnh bãi binh, trở về Mỹ Tho họp cùng Âu Dương Lân tiến hành khởi nghĩa. Trung tâm ngay vùng Bến Tranh, đã gây tiếng vang toàn cõi Nam Kỳ.

Năm 1875 trong trận giao chiến với giặc thất lợi, ông cùng tùy tùng Đốc binh Hương về Chợ Gạo dự định quá giang thuyền buôn ra Bình Thuận cầu viện. Nhưng Đốc Binh Hương bị Trần Bá Lộc mua chuộc dẫn quân bắt Nguyễn Hữu Huân ở Chợ Gạo ngày 15/05/1875 đem giam tại Mỹ Tho. Sau bốn ngày dùng mọi mưu chước chiêu hàng không thành, chúng kết án tử hình Nguyễn Hữu Huân.

Ngày 19 tháng 5 năm 1875 chúng cho tàu chở ông theo dòng Bảo Định về quê Mỹ Tịnh An để hành quyết (12 giờ trưa). Năm ấy ông 45 tuổi.

Suốt 15 năm hoạt động, ba lần khởi nghĩa - ba lần bị bắt. Trên chiến trường, trong tù ngục và ngay đến khi bị xử trảm luôn nêu tấm gương " Tận trung báo quốc và Đạo cương thường " vì nước vì dân.


pe' Loi^ để ra đây cho dễ đọc nè...

white_gragon14
10-10-2007, 07:02 AM
wao cụ Nguyễn của chúng ta có 1 lịch sử khá là oanh liệt nhở,học giỏi mà còn vì nước vì dân,wao wá tuyệt,tự hào về trường ngôi trường mang tên ông wóa ^_^

kid181891
20-10-2007, 12:11 PM
ú la ...nghe xong muốn tự tữ quá... cụ cao bao nhiêu thì mình thấp bấy nhiêu ,huhu. vậy mà cũng là học trò trường NHH huhu.

myhuong
20-10-2007, 09:04 PM
đúng gòi đó!!!
nhụ nhã wé!!!
tại sao mình lại thấp lè tè đến thế nhĩ???

dapxichlo_muanouvo
21-10-2007, 10:57 PM
thì bây giờ tụi mình phải cố gằng lên,để khỏi nhục nhã và ko phụ lòng cụ Nguyễn của chúng ta ~11~ ~09~ ~01~

Born_To_Be_King
22-10-2007, 10:31 PM
Cố lên , nhờ cụ mà đậu dh :D

pe' Loi^
25-10-2007, 01:25 AM
stop...cái này được gọi là lịch sử trường sao?

gà tre
02-11-2007, 04:20 PM
học xong 3 năm ròy mới biết đó nha,yêu trường nhiều hơn nữa nè !

einstein009
04-11-2007, 01:46 PM
bây giờ hỏi tui cụ nguyễn hữu huân sinh ngày nào tui cũng chẳng biết.......

behe
07-12-2007, 09:37 AM
ngay chỗ ổng đứng giữa trường có ghi mà em

Spirit
08-12-2007, 02:02 AM
ngay chỗ ổng đứng giữa trường có ghi mà em

Phải gọi là cụ nha em, lễ phép tí xíu đi. :o:

Nguyen yen
09-12-2007, 02:32 PM
ôi tui họ Nguyễn soa họ Nguyễn nhìu nhân tài thế này, bài này hay ko biết kiếm ở 9dâu ra nữa

Manucian
10-12-2007, 11:58 PM
ôi tui họ Nguyễn soa họ Nguyễn nhìu nhân tài thế này, bài này hay ko biết kiếm ở 9dâu ra nữa
Cái này gọi là thấy người sang bắt quàng làm họ http://i232.photobucket.com/albums/ee155/Manucian/smile.gif

manhvan
23-01-2008, 05:05 AM
cây mít nó năm trong nhà bếp của căn tin rồi.hí hí

hoanang301
26-01-2008, 02:00 PM
công nhận lịch sử của thủ khoa Huân hay thiệt

[M]iss[y]ou
27-01-2008, 09:49 AM
đọc rùi thấy thêm tự hào về trường mình wá ^^

myhuong
14-06-2008, 07:08 PM
vậy nên giờ anh em chúng mình faicố gắng lên để hok phụ đã , từng , đang và sẽ là học sinh trường mang tên Cụ!!!
có được họk ạ????

zoejoe_thanhphong
28-07-2008, 12:51 AM
wao đúng là một LS đáng kinh ngạc,wá tuyệt vời ^_^,xí vậy cho em hỏi cụ NHH của chúng ta là ai thế?Em mới vào còn mơ hồ lắm ^_^

Nghe nói cụ Nguyễn tham gia cách mạng gì gì đó, rồi lại bị gặc bắt bỏ tù, rồi mang ra pùm thử xúng à ?? ! (năm lớp 10 có đọc sơ sơ qua nhưng rồi cũng tong hết, chảng còn biết cụ nào tên là Huần cả :( )

Killlucifer
28-07-2008, 01:15 PM
tên Huần ah :)) =)) thiệt là khâm phục, khâm phục bạn mà hehe

zoejoe_thanhphong
28-07-2008, 04:59 PM
tên Huần ah :)) =)) thiệt là khâm phục, khâm phục bạn mà hehe

Hic, gõ dư chữ f :) hehe

Lucky297
06-08-2008, 12:27 PM
Thanks đọc xong mới bít ^^

Killlucifer
03-09-2008, 12:43 PM
http://www.nguyenhuuhuan.info/plugins/p17_image_gallery/images/100.jpg

http://www.nguyenhuuhuan.info/plugins/p17_image_gallery/images/99.jpg

Lịch Sử Trường

Vị trí :

Trường được thành lập vào năm 1962-1963, nhưng mãi đến năm học 1965-1966, trường mới được ban doanh lý kiến thiết Đại Học Thủ Đức đồng ý cho Bộ Giáo Dục (truoc nam 1975) mướn một lô đất tọa lạc trong 4 con đường, diện tích 15.588 m2 với giá tuợng trưng là 1đồng/m2 trong một năm, thời hạn là 99 năm, dùng làm cơ sở cho trường trung học Thủ Đức. Trên lô đất này đã có sẵn 5 phòng học của chương trình ấp Tân Sinh. Theo thời gian, số phòng học được xây thêm: 5 phòng có sẵn, 4 phòng do ông Thứ trưởng Thương Mại tài trợ, 4 phòng do Bộ giáo dục xây, còn lại hầu hết do công sức của Hội PHHS trước và sau giải phóng đóng góp, tất cả các phòng này được xây dựng với qui mô cấp bốn (nhà trệ, mái tôle) với tồng số phòng là 37, trong đó có 28 phòng học và 9 phòng chức năng.

Lô đất hiện tại của trường Nguyễn Hữu Huân được bao quanh bởi 4 con đường : Đòan Kết, Chu Mạnh Trinh, Bác Ái và Võ Văn Ngân. Địa chỉ trước đây của trường là số 1, nay đổi lại là số 11 đường Đòan Kết- phường Bình Thọ-quận Thủ Đức.

Trường được xây dựng mới, khởi công vào ngày 03 tháng 09 năm 2003, khánh thành vào năm học 2005 với tổng kinh phí là 19 tỷ 272 triệu đồng, gồm 37 phòng học, 3 phòng thí nghiệm Lý-Hóa-Sinh, 2 phòng Vi tính, 2 phòng Lab, 1 phòng nghe-nhìn và hơn 10 phòng chức năng khác.

Tên trường và Hiệu trưởng qua các năm:

-Năm học 1962-1973 : trường Trung Học Thủ Đức.

-Năm học 1973-1975 : trường Trung Học Hòang Đạo.

-Tháng 10/1975-1980 : đổi tên trường thành trường Phổ Thông cấp III Nguyễn Hữu Huân theo quyết định số 47/QĐ/VP ký vào ngày 13/10/1975 giữa Bộ giáo dục và Thanh Niên với Sở giáo dục TP

-Năm học 1980-1993 : trường mang tên PTTH Nguyễn Hữu Huân.

-Năm học 1993-2000 : trường mang tên Trường PTTH chuyên ban Nguyễn Hữu Huân.

-Năm học 2000-2002 cho đến nay : trường lại trở về tên gọi PTTH Nguyễn Hữu Huân.



Năm Học Hiệu Trưởng

1962-1963 Thầy Lý Ngọc Kiệt

1963-1966 Thầy ngô Thúc Cơ

1966-1970 Thầy Hồ Văn Trai

1970-1973 Thầy Nguyễn Văn Tâm

1973-1974 Thầy Trần Quang Tuấn

1974-1975 Thầy Nguyễn Văn Hanh

1975-1977 Thây Lê Văn Tấn

1977-1978 Thầy Nguyễn Trường Cửu

1978-1982 Thầy Nguyễn Khắc Trụ

1982-1989 Cô Nguyễn Thị Thu Ba

1989-2001 Thầy Nguyễn Nhất Lang

2001- đến nay Thầy Đào Văn Lợi



Khái quát 43 năm hình thành và phát triển trường Trung Học Thủ Đức-Hòang Đạo-Nguyễn Hữu Huân. (1962-2005)



Năm học 1962-1963:

Vì chưa có cơ sở vật chất, trường Trung học Thủ Đức phải “ở đậu” trường Nữ tiểu học, nay là trường tiểu học Nguyễn Trung Trực với 2 lớp Đệ Nhất.



Năm học 1963-1964:

Trường tuyển thêm 3 lớp Đệ Thất ( 2 Thất Pháp văn và 1 Thất Anh văn). Sỉ số khỏang 230 học sinh. Trường trung học Thủ Đức mượn thêm trường Nữ tiểu học 2 phòng học ở sát cạnh bến xe lam và 1 căn xép nhỏ ngăn đôi : 1 dành làm văn phòng Hiệu trưởng và 1 dùng làm phòng giáo sư (theo tên gọi lúc bấy giờ).



Năm học 1964-1965:

Trường phát triển dần với 2 lớp Đệ Ngũ, 3 lớp Đệ Lục và 4 lớp Đệ Thất, tống cộng 458 học sinh. Trong năm này có thêm giáo sư từ các tình chuyển về. Để đáp ứng nhu cầu, 2 phòng mới xây dựng thêm tại trường Nữ tiểu học và học sinh phải học 2 ca .Điều kiện học tập gia đọan này thật thảm hại, lớp học gần đường nên rất ồn. Vào những tháng mưa dầm, sân trường lầy lội, nếu có dông thì thầy trò, tập vở đều bị ướt.



Năm học 1965-1966:

Tiếp tục vượt khó, trường trung học Thủ Đức vươn lên mở thêm 2 lớp Đệ Tứ và nhận thêm 4 lớp Đệ Thất , tổng cộng 13 lớp với 700 học sinh. Với số lớp hiện hữu, phòng ốc không đủ cung ứng nên các lớp phải chia ra học ở 3 địa điểm: trường Nữ tiểu học, trường Nam tiểu học (nay là trường trung học cơ sở Lê Quý Đôn) và trường Bán Công. Có những lớp bất thường, 2 giờ học tại trường Nữ tiểu học, 2 giờ sau học tại trường Bán Công.



Năm học 1966-1967:

Dù chưa có cơ ngơi riêng, trung học Thủ Đức vẫn lớn mạnh với 3 lớp Đệ Tứ, 4 lớp Đệ Ngũ, 4 Đệ Lục và 4 Đệ Thất, tổng cộng 15 lớp với khỏang 800 học sinh và gần 20 giáo sư. Năm này thầy Cơ xin chuyển về Sài Gòn và thầy Hồ Văn Trai được cử làm hiệu trưởng chính thức của trường.

Khỏang thời gian này, Ban Doanh lý kiến thíêt làng Đại học Thủ Đức dồng ý cho Bộ giáo dục mướn một lô đất diện tích 15.000m2 với giá tượng trưng 1đồng/năm/m2 với thời hạn 99 năm, dùng làm cơ sở xây dựng trường trung học Thủ Đức, bước đầu có 5 phòng học theo chương trình ấp Tân Sinh. Trong năm này, trường vẫn phải học 3 nơi khác nhau, 2 lớp học tại trường Nữ, 4 lớp học tại trường Mới (tên gọi mà dân địa phương thường dùng lúc đó) và số còn lại học tại hai dãy phòng gỗ của trường Nam tiểu học.



Năm học 1967-1968:

Từ trường trung học Đệ Nhất với 4 lớp mỗi khối, trường mạnh dạn mở thêm 2 lớp Đệ Tam nâng tổng số lớp lên 18 với gần 1000 học sinh. Để đáp ứng nhu cầu sỉ số gia tăng , hội PHHS và một số vị ân nhân có nhiệt tâm với nền giáo dục đã vận động tích cực để xây dựng thêm phòng học cho năm này.

Cạnh 5 phòng học thuộc ấp Tân Sinh, 8 phòng học được xây mới, chia thành 2 dãy, mỗi dãy 4 phòng hướng mặt ra đường Hòang Diệu (nay là đường Võ Văn Ngân). Ngòai ra một hệ thống hàng rào kẽm gai được dựng nhằm bảo vệ trường và duy trì kỹ luật học đường. Về sau học sinh gọi đùa là vạn lý trường thành dây thép gai để chống lại nạn cowboy và hippi chọc phá.

Cũng trong năm này, một bảng hiệu mang tên trung Học Thủ Đức được dựng lên ngay cổng trường giáp với đường Đòan Kết làng Đại học. Chấm dứt thời kỳ “ăn gửi ở nhờ” nơi các trường khác, phấn khởi với ngôi trường mới, một phong trào sinh họat học đường vùng lên sôi nổi, thầy trò tham gia san lấp và làm cỏ sân trường vì nơi đây có nhiều gò mối, xây dựng bồn hoa và cột cờ . Cả trường tồ chức cắm trại, thi đua thể thao và làm bích báo.



Năm học 1968-1969:

Trường phát triển thêm với 2 lớp Đệ Nhị, 3 lớp Đệ Tam, 4 lớp Đệ Tứ, 4 lớp Đệ Lục, 5 Đệ Thất, tổng cộng có 22 lớp và khỏang 1200 học sinh. Sau thời kỳ khuếch trương phòng ốc, trường quay sang củng cố ban giảng huấn với 10 vị lúc đầu , nay tăng lên gần 30 vị.

Kỳ thi tú tài (học sinh Đệ Nhị thi tú tái 1, đậu mới được học tiếp Đệ Nhất để thi tú tài 2)năm này, học sinh trường Trung học Thủ Đức ra quân lần đầu đem về một kết quả đáng khích lệ, đạt tỷ lệ đậu 59% có một số đậu hạng Bình và Bình thứ. Đó cũng là nguồn động viên cho ban giảng huấn và tạo niềm tin trong giới phụ huynh.

Tuy nhiên vì thời cuộc, có sự biến động về nhân sự, một số giáo sư phải đi thụ huấn quân sự hoặc bị nhập ngũ hay tái ngũ, việc giảng dạy và kỹ luật nhà trường có phần giảm sút. Không vì vậy mà việc phát triển phòng ốc phải gián đọan. Khỏang cuối năm 1968, chương trình xây dựng và phát triển nông thôn yểm trợ cho trường 2 phòng , Bộ giáo dục cấp cho trường 4 phòng học được xây đối diện với 3 dãy cũ.



Năm học 1969-1970:

Tình trạng phòng ốc tương đối khả quan nên trường tiếp tục phát triển với 2 lớp Đệ Nhất, 2 lớp Đệ Nhị, 4 lớp Đệ Tam, 4 lớp Đệ Tứ, 5 lớp Đệ Ngũ, 7 lớp Đệ Lục, 7 lớp Đệ Thất, tổng cộng có 32 lớp với trên 1500 học sinh. Trong thời gian này trường xây thêm 3 phòng học nối tiếp với 4 phòng học của Bộ thành một dãy 7 lớp rất khang trang và đúng tiêu chuẩn. Các phòng này cho PHHS đóng góp xây dựng.

Một sự kiện đáng nhớ trong năm này là việc một phụ huynh là quân nhân vào hành hung thầy giám thị Hùynh Văn Thanh, tòan thể ban giảng huấn nghỉ dạy 3 ngày chờ cấp trên của quân nhân này trực tiếp giải quyết và xin lỗi mới tiếp tục dạy lại.Năm học 1971-1972:

Theo đà phát triển bình thường trường có tổng cộng 39 lớp và gần 2000 học sinh. Thầy Nguyễn Văn Tâm được đề cử làm hiệu trường vào cuối năm học, đầu niên khóa 1971-1972 mới thực sự bắt tay vào việc.

Nhờ tuổi trẻ và nhiệt tình, thấy Tâm xây dựng nhìêu phong trào cho nhà trường: cắm trại, thi đua văn nghệ, ra Đạc san Xuân Nhâm Tý (1971-1972) lần đầu tiên được in hẳn hoi vì trước đó chỉ quay roneo, trồng cây tạo bóng mát, san ủi đường đi và sân tập thể dục, lập ban giáo sư hướng dẫn Khải đạo, lập thư viện và dự định biến cải trường Trung học Đệ Nhị cấp Thủ Đức thành một trường tổng hợp.

Đáng tiếc là thầy Nguyễn Văn Tâm sau đó bị ngưng chức.



Năm học 1973-1974:

Một ban giám đốc mới được đề cử: Hiệu trưởng thầy Trần Quang Tuấn, dưới có các thầy Võ Phá, Võ Thanh Sum, thầy Nguyễn Văn Phượng.

Cùng lúc tên trường Trung học Thủ Đức được đưa ra thảo luận rất sôi nổi tại hội đồng giáo sư nhà trường; thầy Tuấn rất tâm đắc với tác phẩm : “Mười điều tâm niệm” của Hòang Đạo nên quyết dịnh chọn danh hiệu này để sọan thảo ra “Mười điều nội quy của trường”. Trường đổi tên Trung học Hòang Đạo. Theo đà phát triển, số lớp tăng lên 43 với khỏang 2200 học sinh.

Cuối năm đó, vì thiếu sự nhất trí trong ban Giám đốc nên tòan ban đã từ chức.



Năm học 1974-1975:

Ban giám đốc mới được cử tới, trong đó thầy Nguyễn Văn Hanh làm hiệu trưởng.Đặc biệt cuối năm 1973-1974, đựơc sự hỗ trợ của PHHS cộng thêm ngân sách nhà nước, một dãy phòng gồm 4 phòng trệt và 4 phòng lầu được khẩn trương xây dựng , khép kín khuôn viên trường thành 4 dãy vuông vức bao quanh, tổng số lớp là 45:4 lớp 12, 6 lớp 11, từ lớp 10 đến lớp 6 mỗi khối 7 lớp với gần 2500 học sinh.

Chất lượng giảng dạy được nâng cao thêm một bước, ngòai những giáo sư cư trú tại địa phương, phần còn lại là những giáo sư lâu năm nhiều kinh nghiệm chuyển từ các tỉnh về giúp cho việc giảng dạy thêm đa dạng và phong phú, tạo được tiếng tốt, thu hút học sinh ở các vùng phụ cận như Gia Định, Dĩ An, Lái Thiêu, Biên Hòa…

Sau ngày 30-04-1975, sự kiện lịch sử trọng đại, trường Trung học Hòang Đạo cũng chuyển mình theo sự thay đổi của đất nước. Ban giám cũ được bình bầu lại .



Năm học 1975-1976:

Diễn ra trong bối cảnh hòan tòan mới. Việc dạy và học cũng thay đổi để phù hợp với cuộc sống mới.

Trước ngày 30/4/1975 trường Nguyễn Hữu Huân là trường trung học công lập lớn nhất của huyện Thủ Đức. Sau ngày 30/4/1975 đây cũng là trường cấp III có số lớp nhiều nhất so với các trường trong huyện Thủ Đức như trường Thủ Đức, Giồng Ông Tố, Thủ Thiêm.

Trước ngày khai giảng, trường trung học Hòang Đạo chuyển tòan bộ giáo viên cấp II (giáo sư trung học Đệ Nhất cấp) đến các trường cấp I, II khác trong huyện và nội thành đồng thời nhận đầy đủ giáo viên cấp III (giáo sư trung học Đệ Nhị cấp) của các trường trong huyện do quyết định của Phòng giáo dục huyện Thủ Đức cùng với một số giáo viên do Sở điều về. Trường giữ lại số lượng giáo viên cấp III và nhân viên của trường Trung học Hòang Đạo cũ.

Việc phân ban trong những năm đầu sau giải phóng cụ thể như sau:

* Ban A: Văn, Sử , Địa.
* Ban B: Văn, Ngọai ngữ.
* Ban C: Tóan, Lý.
* Ban D: Hóa, Sinh.

Đặc biệt trong nhà trường XHCN, học sinh tập thể dục giữa giờ.

Ở thư viện, các sách tiếng Anh, tiếng Pháp trừ những sách để dạy, tất cả đều phải hủy bỏ theo lệnh của thầy Hiệu trưởng. Tiếc nhất là bộ Bách khoa từ điển của Mỹ gồm 28 cuốn, mỗi cuốn dày độ bảy tám trăm trang. Ngày nay tìm đâu ra bộ từ điển đó!



Năm học 1976-1977:

Khai giảng ngày 01/10/1976

Năm học này trường còn lại 30 lớp với 1631 học sinh. Sở dĩ số lớp giảm xuống là vì phân tuyến lại, một số học sinh phải sang trường phổ thông cấp III Thủ Đức và chỉ tiêu chuyển vào lớp 10 là 9 lớp.

Đa số giáo viên ở nội thành đi lại khó khăn nên năm học 76-77 này có nhiều giáo viên xin thuyên chuyển về gần nơi cư trú. Vì vậy từ 103 giáo viên+CNV của năm 75-76, bây giờ còn lại 79 người.

Tóm lại, năm học 1976-1977, thầy trò trường Nguyễn Hữu Huân tích cực dạy tốt và học tốt. Năm này củng là năm mở đường cho những năm sau càng ngày càng tiến lên. Đặc biệt trong năm này nhà trường thành lập phòng truyền thống trỉnh bày đầy đủ họat động đấu tranh của nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Hữu Huân.



Năm học 1977-1978:

Ngày khai giảng :12/09/1977

Sỉ số học sinh trong năm học này là 26 lớp với 1343 học sinh. Số CBGV+CNV là 71 người.

Năm này trường thành lập phòng thí nghiệm nên học sinh bắt đầu làm thực hành sôi nổi hơn.

Tháng 05/1977, ban lao động tổ chức cho tòan thể học sinh trồng khoai lang những vùng đất trồng sau các dãy lớp học. Đầu năm học 1977-1978, học sinh thu hoạch 700 kg.

Tháng 03/1978 trường sinh ngữ ban đêm số 7 được thành lập, dạy vào các buổi tối thứ 3-5-7. Do thầy Nguyễn Trường Cửu làm hiệu trưởng. Trường bổ túc văn hóa dạy các tối thứ 2-4-6 do thầy Lê Văn Tấn làm hiệu trưởng.



Năm học 1978-1979 :

Khai giảng ngày 04/09/1978.

Năm học này đời sống giáo viên khó khăn : ăn độn cơm khoai, bột mì, với bo bo. Giáo viên làm đủ mọi nghề tay trái để kiếm sống : chăn nuôi, trồng trọt, buôn bán, làm công, làm thợ,…Đối diện với cuộc sống vô cùng khó khăn, nhà giáo vẫn kiên trì thể hiện thiên chức của người « kỹ sư tâm hồn ».

Thầy Nguyễn Trường Cửu, hiệu trưởng về hưu, Sở điều động thầy Nguyễn Khắc Trụ từ trường phổ thông cấp III Giồng Ông Tố về thay thế.

Sỉ số học sinh trong năm học 78-79 là 1307 chia ra làm 27 lớp với 1198 học sinh.



Năm học 1980-1981 :

Ngày khai giảng : 05/09/1980

Kỳ hè 1980, các giáo viên được nghỉ trọn vẹn, được đi phép hưởng phụ cấp tàu xe khi về thăm gia đình. Một số giáo viên miền Bắc nhân dịp này về thăm lại gia đình, bà con. Cuộc sống của giáo viên đã đỡ hơn trước.

Sỉ số trong năm học 1980-1981 chỉ còn 2 khối lớp 11 và 12 là còn phân ban. Khối 10 theo chương trỉnh cải cách giáo dục không phân ban. Tòan trường có 1553 học sinh với 32 lớp.

Về học tập, thi học sinh giỏi, đội tóan được giài nhất tòan thành với 2 học sinh Hà Quốc Văn và Đinh Hòang Thông được chọn vào đội tuyển thành phố.



Năm học 1981-1982 :

Ngày khai giảng :05/09/0981

Ban giám hiệu năm học này có thêm thầy Võ Văn Phú từ trường Công Nông 2 chuyển về.

* Hiệu trưởng : thầy Nguyễn Khắc Trụ
* Hiệu phó : thầy Lê Văn Tấn
* Hiệu phó điều hành quản trị : thầy Võ Văn Phú
* Hiệu phó lao động và văn thể mỹ : thầy Võ Tứ Xuyên
* Thư ký hội đồng đề cử : thầy Nguyễn Nhất Lang

Sỉ số trong năm học này chỉ còn khối 12 là phân ban, khối 11 và 10 theo chương trình cải cách giáo dục.

Trong năm này, ngày mùng 3 Tết năm Nhâm Tuất (1982), thấy Lê Văn Tấn đã chết đột ngột, để lại cho đồng nghiệp giáo viên và học sinh trường Nguyễn Hữu Huân sự thương tiếc khôn nguôi. Thầy vui vẻ, cởi mở, bộc trực, hòa đồng với mọi người nên được đồng nghiệp yêu mến và học sinh kính trọng.

Năm học 1982-1983 :

Năm học 1982-1983 có sự thay đổi lớn trong Ban giám hiệu. Thầy Nguyễn Khắc Trụ đổi về trường Vừa học vừa làm Thủ Đức, thầy Tấn mất, thầy Võ Tứ Xuyên đi học lớp cán bộ quản lý. Cô Nguyễn Thị Thu Ba, trưởng Phòng Giáo Dục Thủ Đức được điều về làm Hiệu trưởng trường Nguyễn Hữu Huân. Thầy Võ Văn Phú làm hiệu phó.

Tổng số học sinh trong năm học này là 1215 với 27 lớp.

Kết quả cuối năm tốt nghiệp đạt 95%
Năm học 1983-1984 :

Tổng số lớp năm học này là 32 với 1497 học sinh.

Trường sinh ngữ ban đêm đóng cửa từ năm 1979, đến năm học này mở lại, do cô Nguyễn Thị Thu Ba làm hiệu trưởng.



Năm học 1984-1985 :

Cô hiệu trưởng cho xây một phòng tài vụ nối liền dãy lớp học và phòng BGH. Ngòai ra cho đóng cót làm trần nhà 4 phòng học phía sau, nơi giáo viên thường nói đùa là lò bánh mì.

Sỉ số năm học 1984-1985 có 32 lớp với 1411 học sinh.

Lao động vệ sinh môi trường học đường có nhiều tiến bộ. Lao động công ích đào được 3000m đường thủy lợi. Ban thủy lợi bồi dưỡng 5000đồng, chia cho mỗi lớp 100đ để làm quỹ lớp.

`Đặc biệt trong năm học này Thi Tốt Nghiệp PTTH tại trường, được tổ chức vào ngày 25-26/05/1985. Chấm thi tại trường. Đây là năm đầu tiên cũng là năm cuối cùng thi và chấm thi tại trường.



Năm học 1985-1986 :

Đây là năm đầu tiên của Phân hiệu Nguyễn Hữu Huân ở Long Thạnh Mỹ. Phân hiệu này thu nhận học sinh tốt nghiệp cấp II các xã Long Bình, Long Phước, Long Thạnh Mỹ, Long Trường.

Đời sống giáo viên chịu ảnh hưởng của « giá-lương-tiền » nên vô củng khó khăn. Đầu tháng 10/1985, triển khai lương mới, tiếp theo là việc đổi tiền gây xáo trộn một thời.

Đặc biệt năm học này, nhà trường dạy nghề phổ thông.

Học sinh tham gia hội TDTT Phù Đổng đọat giải nhất 3 đội : đội bóng chuyền nam, đội bóng chuyển nữ và đội bóng đá nam.



Năm học 1986-1987 :

Sỉ số : kế họach của Sở duyệt lúc đầu là 35 lớp nhưng do điểm chuẩn thi vào lớp 10 xuống 7.5 nên số lớp lên 38 với tổng số học sinh là 1825.

Phong trào TDTT của trường đạt tiên tiến cấp thành phố. Những thành quả học tập đáng khích lệ : đội giỏi tóan khối 10 đạt hạng nhì TP ; thực hành khối 11 đạt hạng nhất TP.



Năm học 1987-1988 :

Thành phần BGH vẫn như cũ. Tòan trường và phân hiệu Long Thạnh Mỹ có 42 lớp với 2004 học sinh, trong đó hệ A là 1931 học sinh.

Phong trào TDTT sôi nổi, các đội bóng đá, bóng chuyền nam-nữ thi đấu giao hữu với các trường bạn.

Đặc biệt trong năm này có học sinh Trương Thị Mỹ Linh lớp 12A1 được vào đội tuyển học sinh giỏi ngọai ngữ của TP, được giải tòan quốc và được tuyển thẳng vào Đại học Sư Phạm.



Năm học 1988-1989 :

Tòan trường và phân hiệu có 39 lớp trong đó có 1 lớp hệ B, tổng cộng có 1864 học sinh.

Thời gian này đời sống giáo viên còn gặp nhiều khó khăn, để cải thiện đời sống cho cán bộ giáo viên-công nhân viên trường, BGH đã cho xây dựng 6 gian hàng cho thuê ở mặt tiền đường Võ Văn Ngân với sự chấp thuận của Sở. Tiển xây dựng do người thuê đóng góp, do đó hợp đồng trong thời gian 6 năm kể từ 1989 đến 1995, lấy tiền thuê tượng trưng mỗi gian 100kg gạo/tháng.



Năm học 1989-1990 :

BGH trong năm học này có sự thay đổi . Cô Nguyễn Thị Thu Ba được Sở đề cử làm trưởng Phòng Giáo Dục huyện Thủ Đức.

* Thầy Nguyễn Nhứt Lang :hiệu trưởng.
* Thầy Võ Văn Phú : hiệu phó HCQT
* Cô Nguyễn Thị Nguyệt : phụ trách Phân hiệu Long Thạnh Mỹ.

Sỉ số tại trường chính Nguyễn Hữu Huân có 36 lớp với 1703 học sinh. Tại phân hiệu Long Thạnh Mỹ có 6 lớp với 250 học sinh hệ A.

Trong năm học này tổ Giám thị trường được hình thành, có biên chế và qui định rõ quyền hạn, nhiệm vụ. Trật tự kỷ luật của trường có tiến bộ rõ rệt. Việc xây dựng phòng đọc sách đã mang lại những hiệu quả tích cực trong việc ổn định trật tự kỷ luật trong nhà trường. Những tíếc giáo viên vắng, học sinh được hướng dẫn vào phòng đọc sách, tránh đi lảng vảng ngòai sân ảnh hưởng đến các lớp khác.

Các tiết thực hành ở các bộ môn : Lý, Hóa, Sinh được thực hiện đầy đủ, kể cả những lớp ở Long Thạnh Mỹ cũng về trường chính để thực hành thí nghiệm.

Trường tham gia đầy đủ các cuộc thi học sinh giỏi các môn Văn, Tóan, Lý, Hóa, Ngoại ngữ. Học sinh Đặng Thị Uyên Phương lớp 11N1 được 8.5 điểm, đạt giải nhất cá nhân và trường đạt giải ba đồng đội môn Nga lớp 11.



Năm học 1990-1991 :

Thành phần BGH gồm :

* Thầy Nguyễn Nhứt Lang : Hiệu trưởng.
* Thầy Phù Khí Toàn : Hiệu phó chuyên môn.
* Thầy Nguyễn Khắc Trụ : Hiệu phó HCQT
* Cô Nguyễn Thị Nguyệt : Hiệu phó đặc trách phân hiệu Long Thạnh Mỹ.

Sỉ số hệ A cả trường chính và phân hiệu là 33 lớp với 1382 học sinh ; hệ B có 5 lớp với 257 học sinh.

Năm học này học sinh lớp 10 học theo chương trình cải cách giáo dục. Năm học trước nữ sinh đã được động viên mặc áo dài trắng. Năm này việc mặc đồng phục áo dài trắng của nữ sinh đưa vào nội qui, góp phần không nhỏ trong việc giữ vững nề nếp và ổn định trật tự, kỉ luật của trường.

Học sinh cả 3 khối lớp tham gia thi học sinh giỏi các môn tự nhiên, ngoại ngữ và thực hành thí nghiệm. Học sinh Đặng Thị Uyên Phương lớp 12N1 năm nay được chọn vào đội tuyển của TP dự thi học sinh giỏi toàn quốc môn tiếng Nga và đạt được giải 3 toàn quốc. Ngày 22/05/1991, Uyên Phương được Bộ Giáo Dục & Đào Tạo công nhận đặt cách tốt nghiệp PTTH và triệu tập ra Hà Nội tham gia thi tuyển chọn đội tuyển quốc gia đi tham dự kỳ thi Quốc tế Olympic tiếng Nga tổ chức tại Nga.

Ngoài ra có Nguyễn Thị Hương Thủy lớp 11A3 và Nguyễn Văn Ba lớp 12A6 được học bổng « Vì nhân tài, tương lai đất nước ».

Cũng trong năm này trường cho xây dựng mới 1 cổng sau dành cho học sinh, xây dựng mới 2 nhà vệ sinh… Trường phân hiệu Long Thạnh Mỹ được làm một sân bóng chuyền…



Năm học 1991-1992 :

Bắt đầu từ năm học này trường phân hiệu Long Thạnh Mỹ được tách riêng thành trường Phổ thông cấp 2,3 Nguyễn Huệ. Cô Nguyễn Thị Nguyệt làm Hiệu trưởng trường này.

Tổng số lớp toàn trường là 34 với 1637 học sinh gồm 27 lớp hệ A và 7 lớp hệ B.



Năm học 1992-1993 :

Trường năm nay có 33 lớp gồm 25 lớp hệ A và 9 lớp hệ B, tổng số học sinh là 1561.

Ở Nam Bộ có 2 trường lấy tên nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Hữu Huân là trường PTTH Nguyễn Hữu Huân ở Thủ Đức và trường PTTH Thủ Khoa Huân tại huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, quê hương cụ Nguyễn Hữu Huân. Nhân lễ giỗ lần thứ 120 và lễ khánh thành đền thờ nhà thơ, nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Hữu Huân, chính quyển huyện Chợ Gạo có mời trường PTTH Nguyễn Hữu Huân đến dự.



Năm học 1993-1994 :

Đây là năm đầu tiên Bộ Giáo Dục & Đào Tạo thực hiện thí điểm phân ban. Tòan quốc có 14 trường thí điểm phân ban. Trường Nguyễn Hữu Huân được hân hạnh là một trong 14 trường phân ban đầu tiên.

Trong năm học này trường dạy theo 3 chương trình :

+Chương trình phân ban lớp 10 hệ A gồm 3 ban :A ( Khoa học tự nhiên)-B ( Khoa học tự nhiên – Kỹ Thuật)-C (Khoa học xã hội).

+Chương trình cải cách lớp 11,12 hệ A và hệ B.

+Chương trình Bổ túc văn hóa lớp 10 dành cho công nhân kỹ thuật may Thủ Đức.

Năm này trường có 26 lớp hệ A với 1116 học sinh và 11 lớp hệ B với 581 học sinh.



Năm học 1994-1995:

Trường có 26 lớp hệ A với 1157 học sinh và 18 lớp hệ B, với 944 học sinh. Tổng cộng 44 lớp với sỉ số 2099.



Năm học 1995-1996:

Học sinh chuyên ban phải học môn Kỹ Thuật Ứng Dụng, đây là môn học bắt buộc.Trường dạy nghề: thêu, may gia dụng, may công nghiệp, dinh dưỡng, mộc, sửa chữa xe gắn máy, điện gia dụng, điện tử, đánh máy chữ, kế tóan , tin học.



Năm học 1996-1997:

Vừa khai giảng được nửa tháng thì BGH có sự thay đổi. Thầy Nguyễn Khắc Trụ và thầy Phù Khí Tòan thôi giữ chức vụ Hiệu phó. Thay vào đó là thầy Nguyễn Thế Quân và thầy Lê Quang Tuyến.

Năm nay trường cho xây nối các dãy lớp học và từ Hội trường sang phòng hành chánh.



Năm học 1997-1998:

Một sự việc đáng tiếc xảy ra, cô Nguyễn Thị Tuyết Mai, nhân viên thư viện, đã biển thủ số tiền mua sách của nhà trường gần 10 triệu đồng. Lợi dụng sự tín nhiệm của trường sinh ngữ ban đêm, thu tiền học viên và lấy nhiều năm, ngót gần trăm triệu, úp ba dây hụi ở trường, chiếm đọat của CBGV-CNV lên tới 190 triệu. Cô Mai đã bị đưa ra hội đổng kỷ luật buộc thôi việc và truy tố ra pháp luật. Sau đó tòa kêu án 6 năm tù.

Trong hè năm 1998, nhà trừơng và Hội PHHS đã phối hợp thực hiện một số công trỉnh. Bêtông hóa sân trường, trước kia thường được gọi đùa là sa mạc Sahara.

Với kinh phí của Sở, nhà trường đã xây dựn hàng rào ở sân thể dục và sửa chữa phòng thể dục. Ngòai ra còn sửa chữa lại Hội trường và phòng Sinh vật.



Năm học 1998-1999:

Năm học bắt đầu áp dụng chương trình phân ban từ lớp 10 theo phương pháp cuốn chiếu.



Năm học 1999-2000:

Năm học 1999-2000 là năm học cuối cùng của lớp 12 theo chương trỉnh phân ban. Các lớp 10 và 11 học theo chương trỉnh cải cách giáo dục.

Nhiệm vụ dạy tốt và học tốt là nhiệm vụ chính của trường. Giáo viên đầu tư công sức nhiều vào công tác giảng dạy nhưng kết quả cuối năm thi Tốt nghiệp có 323 học sinh và đậu 236 học sinh, tỉ lệ 73.7%. Một kết quả kém từ trước tới nay.

Ngày 24 Tết, tức 30/01/2000, cô ĐặngThị Trúc Duyên đã mất trong khi sinh. Cô là giáo viên giỏi được trò yêu, đồng nghiệp quí. Đây là nỗi đau lớn của gia đình và nhà trường.



Năm học 2000-2001:

Đây là năm học hòan tòan theo chương trình cải cách cả hai hệ công lập và bán công. Năm học này học sinh thi Tốt nghiệp theo chương trình cải cách.

BGH trong năm học này có sự thay đổi. Thầy hiệu phó Lê Quang Tuyến về hưu.

Năm này có 6 học sinh lớp 10 và 11 đạt giải Olympic, 2 hs đạt giải Hòang Gia Úc môn Hóa.

Trong năm này số học sinh thi đậu Tốt nghiệp chiếm tỉ lệ 84.99%. So với năm trước đã tăng lên gần 12%.

“Nhân vô thập tòan”, làm nhiều thế nào cũng có thíêu sót. Những đơn thư khiếu tố, khiếu nại về việc làm sân trường đến nay vẫn còn lời ra tiếng vào.



Năm học 2001-2002:

Từ tháng 8/2001, có một sự thay đổi tòan bộ trong BGH cũ: thầy Nguyễn Nhứt Lang, hiệu trưởng, được điều về Sở Giáo dục TP; thầy Nguyễn Thế Quân, hiệu phó, được đổi về trường PTTH Phước Long, quận 9. Thay vào đó là thành phần BGH mới, trẻ, đầy nhiệt tình năng nổ:

* Thầy Đào Văn Lợi : Hiệu trưởng.
* Thầy Lâm Triều Nghi: Hiệu phó chuyên môn.
* Thầy Trần Văn Đức: Phó hiệu trưởng HCQT.

Sau khi thầy Hiệu trưởng mới nhận bàn giao chức vụ được 3 tháng, trường đã có sự “thay da đổi thịt”. Các phòng được sắp xếp sửa chữa lại cho khoa học hơn. Phòng Lab được trang bị các máy vi tính hiện đại thay thế tòan bộ những máy đã quá thời gian sử dụng.

Từ trước, học sinh hai hệ công lập và bán công mang phù hiệu khác nhau để dễ phân biệt. Một điều mới mẻ ở đây là thầy hiệu trưởng cho học sinh cà 2 hệ cùng mang một lọai phù hiệu, xóa bỏ mặc cảm tự ti của các học sinh bán công.

Kể từ năm này, trường PTTH Nguyễn Hữu Huân đã bắt đẩu vươn lên để cố gắng sánh kịp với các trường “đại gia” ở thành phố như Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Quý Đôn, Bùi Thị Xuân, Gia Định…

Kết quả học tập của năm học 2001-2002 rất đáng phấn khởi:

* Thi học sinh giỏi lớp 12 đạt 14 hs.
* Học sinh khối 10,11 đạt giải Olympic 11 hs.
* Đạt giải Hòang Gia Úc môn Hóa 11 hs.
* Số học sinh tốt nghiệp đạt tỉ lệ 92.31%
* Thủ khoa Đại học 1 hs.
* Trường có số hs đậu Đại học cao, nằm trong mười trường đứng đầu TP.

BGH nhận thấy cần phải xây dựng một ngôi trường khang trang, bề thế đáp ứng sự phát triển hs ngày càng tăng. Thầy hiệu trưởng đứng ra xin xây dựng lại trường. Ngày 03/09/2003 trường PTTH Nguyễn Hữu Huân được khời công xây dựng lại.



Năm học 2002-2003:

Cuộc sống giáo viên đã ổn định. Phong trào dạy tốt, học tốt lên cao.

Kết quả dạy và học năm học 200-2003 rất đáng tự hào.

* Thi học sinh giỏi lớp 12 cấp TP đạt 26 hs.
* Học sinh khối 10,11 đạt giải Olympic 16 hs.
* Giải Hòang Gia Úc môn Hóa là 16 hs.
* Tỉ lệ tốt nghiệp đạt 95.48%, một con số rất đáng phấn khởi.
* Đặc biệt trong năm này, cả lớp 12A1 đều đậu Đại học. Trong lớp này có 3 học sinh đạt thủ khoa 3 trường Đại học:
* Lê Vũ Lâm: thủ khoa ĐH Bách Khoa.
* Đặng Thế Nhân : thủ khoa ĐH Sư Phạm (khoa Tóan).
* Nguyễn Thị Hồng Vân : thủ khoa ĐH Đà Lạt.

Đây là năm huy hòang nhất của trường về số lượng hs tốt nghiệp và đậu ĐH. Về số lượng hs đậu ĐH, trường Nguyễn Hữu Huân nằm trong “topten” trường có số học sinh đậu ĐH cao nhất TP.



Năm học 2004-2005:

Năm nay thành phần BGH có sự thay đổi. Thầy hiệu phó Trần Văn Đức được điều về làm Hiệu trưởng trường PTTH Phước Long , quận 9. BGH bổ sung thầy Hùynh Phú Cường vào vị trí này.

Năm học 2004-2005 là năm có tỉ lệ đậu ĐH cao nhất:38.85%

copy from cựu học sinh THPT 1996 - 1999

luv_selena
11-10-2008, 08:41 PM
Trường mình hùi đó với bây giờ khác nhau nhìu wó

MysteryGhOst
14-10-2009, 01:48 PM
trường mình có 1 bề dày thành tích đáng khâm phục

Antonio
03-02-2010, 03:00 PM
trường là mái ấm, những khi còn học trong trường chúng ta đuề là anh chị em của nhau,và thầy cô là cha mẹ thứ 2 của chúng ta, nơi ta học cách làm người và bik cuộc sống là gì...và chỉ còn 1 năm nữa mình ra trường rồi...kỷ niệm dưới mái trường sẽ không thể quay trở lại những sẽ mãi mãi không bao giờ phai T_T ~07~ ~07~

dungdung
16-03-2010, 11:29 AM
Xem lịch sử, nhớ trường xưa. Mình học lớp 6 (đệ thất) của trường từ năm 1972, tốt nghiệp lớp 12 năm 1979. Lúc vào lớp 6 trường mang tên Trung học Thủ Đức khi tốt nghiệp trường đã là Nguyễn Hữu Huân.
Có lần qua trường cũ thấy lạ người, lạ cảnh, chỉ có con đường Đoàn Kết thân quen với bao nhiêu kỹ niệm. Thương quá trưồng xưa. Có ai học lớp 6P3 năm 1972, lớp 12AB năm 1978-1979 liên lạc với mình nghe.

Gemini
06-04-2010, 08:58 PM
Hic, NHH có cả 1 bề dày LS, ước gì trường mình đc như trường các bạn!

Nhìn lại trường mà chỉ thấy mới vỏn vẹn 10 năm

miss_you
11-04-2010, 08:37 PM
Yêu trường nhiều hơn

VicChou
13-08-2010, 10:47 PM
Ra trường rồi lại thấy nhớ ~07~~07~~07~ Em tự hứa sẽ cố gắng học tập thật tốt để sau này xây dựng đất nước, không phụ lòng thầy cô, cha mẹ. ~07~ (ặc sao thấy giống văn tiểu học quá)

cuongbivina
09-09-2010, 03:38 PM
http://i297.photobucket.com/albums/mm207/NguyenhuuhuanN1/N4/DSCN0015.jpg
Cảnh cổng trường Nguyễn Hữu Huân lúc chưa xây mới